|
Hai Bà Trưng
Trần Gia Phụng
Hiện nay, các sử gia Việt-Nam chưa đồng ý với nhau về
giai đoạn khai sinh của nước cổ Việt. Có người cho rằng
lịch sử nước ta bắt đầu từ thời đại Hồng Bàng
(2879-258 tr. Công nguyên). Nhưng cũng có người không đồng
ý điều nầy vì nghĩ rằng mười tám đời Hùng Vương
không thể kéo dài trong hơn hai ngàn năm trăm năm, tính trung
bình mỗi vua Hùng cai trị hơn một trăm ba chục năm. Đây
là điều khó có thể xảy ra trong thực tế. Một trong
những người đầu tiên lên tiếng nghi ngờ điều nầy là
vua Tư. Đức (trị vì 1847-1883).(1)
Chịu ảnh hưởng của các bộ sử cũ của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ
Liên (Đại Việt sử ký toàn thư, gọi tắt là Toàn thư), và
của Quốc sử quán triều Nguyễn (Việt sử thông giám
cương mục, gọi tắt là Cương mục), sử gia Trần Trọng Kim,
trong bô. Việt Nam sử lược, khi viết về đời Hồng Bàng,
bắt đầu bằng câu: "...Cứ theo tục truyền ..." Tục
truyền có nghĩa là không phải là thực. Sau đời Hồng
Bàng, Trần Trọng Kim trình bày tiếp về nhà Thục rồi nhà
Triệu\. Nhưng chuyện nhà Thục chỉ là tiếp nối chuyện
Hùng Vương; kết thúc cũng giống như chuyện Hùng Vương
nên không được xác tín cho lắm. Về nhà Triệu, ai cũng
biết rằng Triệu Đà là tùy tướng của Nhâm Ngao, và Nhâm
Ngao là phiên tướng của nhà Tần.(2) Trước khi từ trần,
Ngao khuyên Triệu Đà nhân cơ hội Hán Sở tranh hùng nên
dựa vào địa thế xa xôi hiểm trở của quận Nam Hải,
thành lập một nước độc lập với trung ương.(3) Triệu
Đà liền tự xưng vương tức Triệu Vũ Vương, đặt quốc
hiệu là Nam Việt, đóng đô ơ? Phiên Ngung năm 207 tr. CN.
(giáp ngọ). (4) Nước Nam Việt không tồn tại được lâu
vì sau khi Hán Cao Tổ (trị vì 202-195) lật đổ nhà Tần lên
cầm quyền, tuy lúc đầu bang giao giữa Nam Việt với
Trung-Hoa hòa hoản, nhưng về sau, nhà Hán (202 tr. CN - 220) sai
Lô. Bác Đức (tước là Phục Ba tướng quân) đem quân đánh
nhà Triệu năm 111 tr. CN, giết Triệu Dương Vương và thái
phó Lữ Gia, chiếm Nam Việt, rồi đổi Nam Việt thành Giao
Chỉ bộ. Đáng chú ý là bô. Giao Chỉ là một tên chung đê?
chỉ một vùng rộng lớn gồm chín quận Nam Hải, Thương
Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu
Nhai, Đạm Nhĩ mà trong đó, theo Ngô Thời Sĩ, chỉ có ba
quận Giao Chỉ, Cửu Chân,và Nhật Nam mới riêng hẳn là cô?
Việt. (5) Phải chăng vì sự lầm lẫn giữa bô. Giao Chỉ và
quận Giao Chỉ mà nhiều sử thuyết đã đưa Triệu Đà
thành một triều đại của cô? Việt và cho rằng lãnh thô?
cô? Việt là khu vực cai trị của Triệu Đà bao gồm cả vùng
Quảng Châu (Trung-Hoa) ngày nay?(6)
Sự kiện báo hiệu việc mở đầu công cuộc tranh đấu
giành độc lập của nước cô? Việt thuộc địa bàn khu
vực nước ta ngày nay là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
năm 40 (Canh Tý). Trưng Trắc, người huyện Mê Linh (Phúc
Yên ngày nay), cùng em là Trưng Nhị đánh đuổi thái thú
Trung Hoa là Tô Định về nước, lấy được một số thành
trì và tự xưng vương, đóng đô ở quê nhà là Mê Linh.
Hai Bà Trưng đã được sử sách ghi lại là người địa
phương Giao Châu đầu tiên lập chiến công chống lại
chính quyền Trung Hoa, nói lên ý chí độc lập của người
cô? Việt nhắm tạo dựng một quốc gia riêng biệt, thoát
khỏi ách thống trị của Trung Hoa.
Năm 41 (tân sửu), Trung Hoa gởi Mã Viện sang Giao Châu\. Mã
Viện, cũng được phong tước Phục Ba tướng quân, tiến
đánh và dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 43
(quý mão). Nước cô? Việt tiếp tục nằm dưới sự đô
hộ của người Tàu.
Về lịch sử cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, có những vấn
đề cần được xác định lại:
1. Tên chồng bà Trưng Trắc : Theo Toàn thư (phần Ngoại kỷ,
quyển 3 tờ 2a) và Cương mục (phần Tiền biên, quyển 2 tờ
10), chồng bà Trưng tên là Thi Sách nhưng theo sách Thủy kinh
chú của Lịch Đạo Nguyên, một tác gia? Trung-Hoa đã qua vùng
Mê Linh (Cô? Việt), viết vào thế kỷ thứ 6, chồng của bà
Trắc tên là Thi\. Sau đây là nguyên văn lời Lịch Đạo
Nguyên: "...Châu Diên lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc
tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê\..."(nghĩa là: ...Con
của lạc tướng Châu Diên tên Thi hỏi cưới (sách) con gái
của lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ...) (Thủy
kinh chú, quyển 37, tờ 62a)(7)
Cần chú ý hai điều: thứ nhất ngành viết sử của nước
ta chỉ bắt đầu vào thế kỷ 13, nên những đoạn sư?
trước đó, người xưa đều sử dụng tài liệu Trung Hoa\.
Thứ nhì sách chữ Nho ngày xưa viết không chấm câu nên
đọc rất dễ bị lầm. Trong câu văn của Thủy kinh chú, nếu
Thi Sách là họ và tên thì câu nầy thiếu động từ, trơ?
nên tối nghĩa\. Đọc tiếp Thủy kinh chú, sự cân đối
trong cách dùng từ sẽ cho thấy rõ tên của chồng bà Trưng.
"...Trắc hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc; Mã Viện hưng
binh phạt, Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê\..."(...[Bà] Trắc là
người can đảm, cùng [ông] Thi nổi dậy; Mã Viện đem quân
đánh, [ông bà] Trắc Thi trốn vào Cẩm Khê\...) Tác gia?
Lịch Đạo Nguyên dùng tên Trắc, vậy thì chữ Thi theo sau
đó cũng phải là tên chứ không thể là họ.
2. Lý do cuộc khởi nghĩa : Theo Toàn thư và Cương mục, Thi
Sách bị thái thú Tô Định giết, đồng thời Tô Định cai
trị tàn bạo, dùng pháp luật trói buộc nên Bà Trưng khởi
nghĩa.
Về lý do thù chồng, như trên đã trích dẫn, theo Lịch Đạo
Nguyên trong Thủy Kinh Chú thì: "...Trắc hữu đảm dũng,
tương Thi khởi tặc; Mã viện hưng binh phạt, Trắc Thi tẩu
nhập Cẩm Khê..." (...[Bà] Trắc là người can đảm, cùng
ông Thi nổi dậy, Mã Viện đem quân đánh, [ông bà] Trắc
Thi trốn vào Cẩm Khê...), như vậy có nghĩa là ông Thi còn
sống khi Bà Trưng nổi lên. Vậy lý do nầy không đứng vững.
Một tài liệu khác đã giải thích vì sao chồng Bà Trưng bi.
khai tử trong khi ông vẫn còn sống và cùng vợ khởi
nghĩa. Đó là quyển The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh]
của tác gia? Keith Weller Taylor do University of California Press
ấn hành năm 1983. Trong sách nầy, tác gia? Taylor cho rằng do
thành kiến phụ quyền, các nhà viết sử người Việt của
những thế kỷ sau không thể chấp nhận chuyện một người
phụ nữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và trở thành nữ vương
trong khi ông chồng vẫn còn sống nên họ đã viết rằng Tô
Định đã giết chồng Bà Trưng. Trong khi đó, cũng theo
Taylor, những tài liệu Trung Hoa cho thấy rõ rằng ông Thi
đã theo Bà Trưng khởi nghĩa\. (K. W. Taylor, sđd. tt. 38-39)
Về lý do thứ nhì, khi chú thích Hậu Hán thư của Phạm
Việp, đến đoạn viết về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng,
thái tư? Hiền đã viết vào thế kỷ thứ 8:"...Giao Chỉ thái
thú Tô Định dĩ pháp thằng chi, Trắc oán nộ cố
phản..."(...Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng luật pháp
trói buộc nên [bà] Trắc tức giận làm phản...).
Chữ "pháp" mà thái tư? Hiền dùng không phải chỉ một nghĩa
hẹp là "pháp luật" mà chữ "pháp" ở đây có thể hiểu
rộng hơn như là pháp chế, hoặc luật lệ về hành chánh,
chính trị, cũng như kinh tế, văn hóa, phong tục. Nói một
cách khác, Tô Định đã áp đặt mạnh mẽ chế độ cai tri.
của Trung Hoa theo chính sách đồng hóa của nhà Hán (202 tr.
CN-220), làm mất tự do của người cô? Việt, và Trưng Trắc
đã nổi lên khởi nghĩa chống lại Tô Định. Về pháp
luật, trong một đoạn nói về việc cai trị của Mã Viện sau
khi dẹp Hai Bà Trưng, Hậu Hán thư (quyển 54, tr. 747) chép:
"Điều tấu Việt luật dữ Hán luật bác giả thập dư
sự." ( Luật dân Việt và luật nhà Hán khác nhau đến trên
mười điều). Có lẽ Hậu Hán thư viết nhẹ nhàng là chi?
có mười điều, nhưng nếu là mười điều căn bản tối
quan trọng của tổ chức xã hội thì cũng đủ trở thành
gông cùm trói buộc những người cô? Việt đang sống tư.
do theo phong tục tập quán của mình.
Như vậy, Hai Bà Trưng đã khởi nghĩa vì ý chí độc lâp
của dân tộc cô? Việt. Lý do nầy rất cao cả, chính đáng,
và mạnh mẽ. Phải chăng khi nghĩ rằng việc bị pháp luật
ràng buộc không đủ mạnh nên các sử gia chính thống ngày
trước phải thêm chuyện thù chồng để việc nổi dậy
thêm phần ý nghĩa\. Nói cho cùng chuyện thù chồng chỉ là
chuyện cá nhân của mỗi người, chứ không phải là đại
nghĩa của đất nước; huống gì ở đây chồng bà Trắc
còn sống và cả hai cùng nổi dậy\. Cũng chính vì thêm
việc thù chồng nên các tác giả của các bộ sử trên đây
biên chép kết quả cuộc khởi nghĩa không rõ ràng.
Cần chú ý, lúc đó Mã Viện đã 70 tuổi và đã về hưu
trí, nhưng vua nhà Hán phải mời Mã Viện ra cầm quân trơ?
lại để bình định Cô? Việt, đủ thấy sức kháng cự của
Hai Bà Trưng rất mạnh mẽ làm cho nhà Hán phải lo ngại gởi
một danh tướng đi đánh dẹp.
3. Kết quả cuộc khởi nghĩa : Theo Hậu Hán thư, khi Mã
Viện được vua Hán cử sang Giao Châu năm 41, thì vào mùa
xuân năm sau, Mã Viện đụng trận với Hai Bà Trưng tại vùng
Lãng Bạc. (theo Cương mục, Lãng Bạc là vùng hồ Tây, Hà
Nội ngày nay) Bà Trưng cùng chồng thua chạy\. Mã Viện
đuổi Bà Trưng đến Cẩm Khê, đánh thắng mấy trận, quân
bà Trưng bị tan rã. (theo Cương mục, Cẩm Khê là vùng Sơn
Tây ngày nay) Hậu Hán thư còn viết tiếp Mã Viện chém
Trưng Trắc, Trưng Nhị gởi đầu về Lạc Dương vào tháng
giêng năm 43. (Hậu Hán thư, quyển 54, tr. 747) Toàn thư và
Cương mục chép phần kết quả cuộc khởi nghĩa giống như
vậy, nghĩa là Hai Bà Trưng thua chạy vào Cẩm Khê và dừng
lại ở đây chứ không đề cập đến chuyện Hai Bà bị chém.
Trong Việt sử tiêu án, Ngô Thời Sĩ (1726-1780) viết:
"...Trưng Vương thấy quân nhà Hán thế mạnh, tự nghĩ quân
mình ô hợp sợ không chống nổi bèn lui về giữ ơ? Cẩm
Khê\. Quân lính cũng nghĩ vương là người con gái, không
thể địch với tướng Hán được, đều tự vỡ
chạy\...Xét quân Hai Bà Trưng thua chạy đến núi Hy Sơn, rồi
không biết đi đâu\..."(8)
Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú
(1782-1840) viết:"...Được ba năm, nhà Hán sai Mã Viện sang
đánh. Vua [chi? Trưng Trắc] thấy quân Hán đông, tự xét
không thể địch nổi, mới lui giữ Cẩm Khê\. Quân đều
tan vỡ. Vua cùng quân Hán đánh nhau, thế cùng phải chết.
Nước bị mất..."(9) Như thế, Phan Huy Chú đã viết rõ ra
rằng Trưng Trắc bị thua, bỏ chạy vào Cẩm Khê, và từ
trần mà tránh nói vì sao bà từ trần.
Qua bộ sử thi Đại Nam Quốc sử diễn ca, hai tác gia? Lê
Ngô Cát và Phạm Đình Toái đã thi vị hóa cái chết của Hai
Bà Trưng :
" Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế cùng liều với sông."
(Đại Nam Quốc sử diễn ca, Trường Thi, Sài Gòn 1956, tr. 75)
Trí tưởng tượng của hai thi sĩ trên được tác gia? Tiên
Đàm Nguyễn Tường Phượng tô điểm thêm trong bài "Thân
thế và sự nghiệp của hai bà Trưng" trên báo Tri Tân, số
38 ra ngày 11-3-1942, trang 219. Nguyễn Tường Phượng viết:
"...Chị em Trưng Vương thất thế phải gieo mình xuống cửa
sông Hát giang mà tự tận..."
Hình ảnh gieo mình xuống sông Hát có vẻ vừa hào hùng, vừa
lãng mạn dễ trở thành đề tài cho thi ca nhạc kịch, và
dễ được lan truyền trong trí tưởng tượng của quần
chúng hơn là hình ảnh thân gái hy sinh nơi chiến trường,
bị bắt chặt đầu một cách rùng rợn rồi gởi về Trung Hoa.
Với tinh thần của một người ngoại cuộc, tác gia? Keith
Weller Taylor viết thẳng thừng rằng: "Mã Viện tiến đến
Mê Linh, và vào cuối năm [42] đã bắt được Trưng Trắc
cùng em là Nhị; vào tháng giêng năm sau, đầu của hai chị em
được gởI về triều đình nhà Hán ơ? Lạc Dương."(The
Birth of Vietnam, tr. 40.)
Có thể các sử gia người Việt ngày trước muốn tránh né
một sự thật đau lòng và không mấy vẻ vang cho dân tộc
Việt, nhưng việc Bà Trưng bị chết một cách thảm thương
như vậy đâu có làm giảm oai linh của người nữ anh hùng
dân tộc chúng ta\. Điều đó càng chứng to? Hai Bà Trưng
đã quyết chiến đấu đến cùng, và hy sinh tính mạng trên
chiến trường vì nền độc lập của dân tộc chúng ta.
Hai Bà Trưng là trường hợp người phụ nữ đầu tiên trong
lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống lại quân
ngoại xâm giành lại nền độc lập cho dân tộc. Đó là
một sự hy sinh vĩ đại của một bậc nữ lưu mà cổ kim
đông tây không thấy có, và đời đời dân tộc Việt
tưởng nhớ ghi ơn.
Khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng, vua Tư. Đức đã ngư.
phê: " Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái
quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình
Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế,
nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sư?
sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm
tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm
dư! "(10)
CHÚ THÍCH :
1. Trong dụ ngày 12-7-bính thìn (12-8-1856), Tư. Đức viết:
"...Việc Kinh Dương và Lạc Long mà Sử cũ đã chép, hoặc
có hoặc không, dầu có nhưng không nên thảo luận đến là
hơn cả, thế mà Sử cũ nhất luật chép bằng chữ lớn, và
trong chỗ chép ấy lại phần nhiều mò mẫm những chuyện
"ma trâu thần rắn", những thuyết hoang đường quái dị,
không hợp lẽ thường..." (Quốc Sư? Quán triều Nguyễn,
Việt sử thông giám cương mục, dụ chỉ tr. 9, bản dịch ban
Nghiên cứu Văn Sư? Địa, Hà-Nội 1957, tập 1, tr. 20).
2. Cương mục tiền biên, quyển 1 tờ 14. Bản dịch tr. 61.
3. Cương mục tiền biên, quyển 1 tờ 18. Bản dịch tr. 63.
Theo lời "chua" của quốc sử quán triều Nguyễn trong Cương
mục tiền biên quyển 1 tờ 19, bản dịch tr. 64, Phiên Ngung
ngày xưa thuộc quận Nam Hải, ngày nay là đất Quảng Châu,
tỉnh Quảng Đông, Trung-Hoa.
Cương mục tiền biên, quyển 2 tờ 4 và 5. Bản dịch tt.
78-79. Năm 208 (quý tỵ), Triệu Đà đưa quân sang xâm chiếm
cô? Việt và sáp nhập cô? Việt vào Nam Việt. (Cương mục
tiền biên, tờ 18, bản dịch tr. 63)
Ngô Thời Sĩ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt-Nam
Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, Văn Sử tái bản, San
Jose 1991, tr. 25. Cũng theo Ngô Thời Sĩ, vì Triệu Đà sáp
nhập cô? Việt vào Nam Việt nên khi Nam Việt bị đổ và bi.
nhà Hán sáp nhập vào Trung-Hoa, nước cô? Việt cũng bị họa
lây. Do đó, theo Ngô Thời Sĩ, Triệu Đà chẳng những
không có công gì với cô? Việt mà còn thủ họa cho cô?
Việt nữa. (Sđd. tr.34)
Gần giống như tỉnh bang Quebec với thành phố Quebec, nước
Mexico với thành phố Mexico
Tên Giao Chỉ có từ xưa, người Trung-Hoa dùng để chỉ vùng
đất về phía tây nam xa ngoài đất Bách Việt(Toàn thư,
lời mở đầu Ngoại kỷ). Đến đời nhà Tần, Giao Chỉ là
Tượng quận (Cương mục tiền biên q.1 tờ 12). Đầu đời
nhà Hán, tách Tượng Quận thành Giao Chỉ, Cửu Chân, và
Nhật Nam (Ban Cố, Tiền Hán thư q.28 hạ, tt. 426-427).
Trịệu Đà sáp nhập ba quận nầy vào nước Nam Việt.
Khi Lô. Bác Đức đem quân đánh Nam Việt năm 111 trước CN,
chính quyền ho. Triệu ơ? Phiên Ngung chống lại quân nhà
Hán, trong khi chính quyền ở quận Giao Chỉ đem sổ đinh ra
nạp xin hàng. Do vậy nhà Hán gọi chung đất Nam Việt là
Giao Chỉ bộ mặc dầu trong chín quận kể trên, chỉ có hai
quận thuộc cô? Việt, sáu quận thuộc Quảng Châu (Cương
mục tb. q. 2 tờ 4, bản dịch tr. 79)
Năm 203, nhà Đông Hán đổi Giao Chỉ bộ thành Giao Châu,
ngang hàng với các châu khác bên Trung-Hoa (Cương mục tb q.2,
tờ 30, bản dịch tr.96). Năm 264, nhà Ngô chia Giao Châu thành
hai: Quảng Châu gồm Nam Hải, Thương Ngô, Uãt Lâm, đóng châu
lỵ ơ? Phiên Ngung (Quảng Châu); Giao Châu gồm Giao Chỉ, Cửu
Chân, Nhật-Nam, Hợp Phố, đóng châu lỵ ơ? Long Biên
(Thăng-Long, Hà-Nội) (Cương mục tiền biên 3, tờ 10, bản
dịch tr. 105)
Những đoạn về Thủy kinh chú và Hậu Hán thư trong bài
nầy, trích dẫn từ sách Việt-Nam thời khai sinh của Nguyễn
Phương, Phòng nghiên cứ Sử, Viện Đại học Huế, 1965. Về
tác gia? Thủy kinh chú, sử gia Nguyễn Phương phiên âm là
Lê. Đào Nguyên, tác gia? Đào Duy Anh phiên âm là Lê. Đạo
Nguyên, nay theo phiên thiết của Từ hải là Lịch Đạo Nguyên.
Ngô Thời Sĩ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt-Nam
Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á Châu, Văn Sử, Hoa Kỳ 1991,
tr. 40. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản
dịch của Nxb Khoa học Xã hội, Hà-Nội 1992, tập 1, tr. 187.
Cương mục tiền biên q. 2 tờ 12. Bản dịch tr. 84.
|